#272 Bước Từng Bước | Truyện ngắn: Ngày Biển Còn Xanh
Truyện ngắn: NGÀY BIỂN CÒN XANH
Tác giả: Maria Quỳnh Trang, trong tuyển tập các tác phẩm vào vòng chung khảo giải truyện “Hy vọng và Hòa Giải” của Vatican News Tiếng Việt.
Giọng đọc: Mộng Phi
“Biển lại hát tình ca biển kể chuyện quê hương. Mỗi một tình yêu, mỗi một cuộc đời. Qua bao nhiêu thăng trầm lửa thử vàng mới nên người. Biển xanh vẫn nhắc những lời yêu thương”
Sò ngồi bên bờ biển, vừa nghêu ngao, vừa vẽ vời trên mặt cát. Một ngôi nhà, một rừng cây, một mặt biển lớn cứ thế hiện lên. Biển sáng nay lặng quá, không ồn ào hung dữ như mấy ngày bão nổi. Xa xa, trong làn sương mỏng, dưới ánh mặt trời lấp ló, thấp thoáng mấy ghe tàu đi đánh cá đang trở về. Nghe đâu độ này cá tôm chẳng còn mà khai thác. Sò nghe dì Bảy, bác Hoa bảo vậy. Cụ Tư đứng đằng sau tự bao giờ, tiến đến ngồi sát bên, mắt nhìn xa xăm ra bãi biển rồi chép miệng: “Qua bao thăng trầm rồi biển chẳng còn xanh”.
Sò dừng tay, ngước mắt nhìn cụ Tư rồi nhìn ra những con sóng đục ngầu, lại cúi xuống vẽ một bóng mặt trời. Cụ Tư điềm đạm:
— Cu Sò đang nghĩ gì đấy?
— Cũng chẳng có gì ạ. Biển sáng nay lặng quá cụ ha?
Cụ Tư trầm ngâm: “ Ưhmm....”
Sò lặng lẽ nhìn sang người đàn ông gầy gò tóc bạc. Hơn tám mươi năm cuộc đời của cụ gắn liền với biển cả. Đến ngần ấy tuổi, người ta kháo nhau đùa rằng cụ là người duy nhất trong làng đếm được biển có bao nhiêu cá, bao nhiêu tôm. Biển là tất cả những miền kí ức trong cụ cũng như những người con của làng chài này.
Ngày ấy, thanh niên trai tráng trong vùng chẳng mấy ai muốn tính chuyện đi xa, chỉ thích sống với con sóng, con sông, làm bạn với thuyền ghe và tôm cá. Đấy là chuyện thời trước, khi biển còn xanh, khi cá tôm còn đầy, khi người dân còn được no đủ. Rồi mấy năm nay, biển tự nhiên vắng cá. Nghề chài sa sút. Màu nước xanh trong ngày xưa không còn, thay vào đó là một màu đục ngầu bao trùm biển cả. Những vệt dầu loang lổ, rác thải nổi lềnh bềnh, cá chết trắng bờ mang theo mùi tanh hôi nồng nặc. Ngư dân đồn nhau rằng biển bị ô nhiễm. Thế rồi người ta rủ nhau đi hết, rời xa làng chài để mưu sinh ở những nơi thành phố ồn ào, tiện nghi. Làng chài dần thưa người ở, họa chăng chỉ còn lại những đứa trẻ mồ côi chưa kịp lớn như Sò, một số ít người chưa có điều kiện để lên thành phố, hay những người già nhiều tuổi như cụ Tư vẫn một mực bám trụ, quyết yêu cho cùng cái nét thanh bình của quê hương xóm đạo.
Sò rút trong túi ra một tờ giấy nhàu nát, đã ngả vàng rồi đưa cho cụ Tư. Cụ Tư chậm rãi đọc những hàng chữ đã mờ màu mực, rồi thở dài. Sò chăm chú nhìn cụ, khẽ hỏi:
— Tờ giấy viết gì cụ Tư?
— “ Khi nào người ta còn yêu biển, biển hãy còn xanh”. Là của ai vậy?
— Cháu không biết. Chắc là của bố cháu. Sáng nay, mẹ soạn mấy tờ báo cũ của bố thì thấy tờ giấy kẹp trong đấy. Cháu không biết đọc nhưng cháu nghĩ nó quý nên cất đi.
Sò lấy lại tờ giấy từ trong tay cụ Tư, nhẹ nhàng vuốt phẳng phiu rồi gấp lại dúi vào túi quần. Nhà Sò nghèo lắm. Bố nó đã ra đi trong một trận bão cách đây bốn năm, khi đó Sò mới lên năm, nhà chỉ còn mình mẹ nó ngày ngày đan lưới chăm lo cho ba đứa con nhỏ. Nhưng mấy năm nay biển không còn cá, ngư dân cũng ít ra biển dần, nghề đan lưới cũng bỏ ngỏ. Thế nên dù đã đến tuổi, thằng Sò vẫn không được đến trường, không biết con chữ. Ngày ngày, nó lần mò theo bờ biển, nhặt đôi con hến, gom đôi chút vụn rác có thể bán được để đổi lấy tiền đưa về cho mẹ nó.
Thằng Sò nhìn xa xăm ngoài biển cả, rồi bất ngờ quay sang cụ Tư, hỏi nhỏ:
— Bố cháu viết như vậy là sao, cụ Tư?
— Ưhmmm... là bố cháu tin rằng biển sẽ lại xanh nếu còn có người yêu nó.
— Thế nhưng có còn ai yêu biển đâu cụ Tư. Người ta bỏ biển đi hết - Sò lí nhí.
Đến đây, cụ Tư không đáp. Yêu biển thì cụ có yêu, nhưng để biển xanh lại như ngày xưa bằng cách nào thì cụ chưa biết. Người ta bỏ biển mà đi, nhưng cụ thì không đi nổi. Cái vị chát chát, cái mùi mặn mặn của biển khơi đã ăn sâu vào từng làn da thớ thịt của cụ. Bỏ biển đi sao đành. Đã nhiều lần cụ động viên bà con trong làng giữ gìn vệ sinh bờ biển, trồng cây chắn sóng, gom rác dọc bờ. Lúc đầu, bà con cũng hào hứng lắm. Bao nhiêu tấm biển “ Cấm vứt rác” được dựng lên dọc khắp bờ, bao nhiêu cây non được đưa về trồng. Thế nhưng chỉ mỗi người dân trong làng yêu biển thôi thì chưa đủ. Khách tứ phương thi thoảng ghé qua xem con sóng, mua con cá, con tôm, thấy biển ô nhiễm lại nghĩ đã bị bỏ hoang. Họ ngang nhiên thải rác, nhổ cây trồng, vứt chai nhựa xuống lòng biển. Dân làng chán nản, thôi không còn chắn sóng, vệ sinh nữa. Cứ thế, biển đã bẩn lại càng bẩn hơn trước. Người ta mất niềm tin ở thiên nhiên biển cả, mất luôn cả niềm tin nơi Thiên Chúa. Bao nhiêu câu hỏi lần lượt được đặt ra: “ Chúng ta đã phạm tội gì? Nếu Chúa tồn tại, tại sao Người nỡ lòng lấy đi miếng cơm manh áo của người dân...”, và dần dần, người ta bỏ lễ, bỏ kinh. Cụ Tư đau lòng lắm.
Mỗi sáng tối, tiếng chuông nhà thờ vẫn rung, nhưng số người tham dự thánh lễ dường như chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Cha già Minh vẫn ôn tồn lặp lại trong thánh lễ hằng ngày: “ Anh chị em thân mến! Chúng ta cần giữ lấy biển, giữ lấy niềm tin. Chúa ban cho chúng ta biển cả để giữ gìn. Bảo vệ biển là trách nhiệm của chúng ta. Biển có xanh thì chúng ta mới khỏe. Biển ô nhiễm là chúng ta mất đi nguồn sống”. Bà con biết vậy, nghe vậy.
***
Một ngày tháng 6 nắng như đổ lửa, ngư dân trong làng quyết định ra khơi đánh bắt sau bao tháng ngày buồn bã. Ba chiếc thuyền rẽ sóng mang theo hi vọng về một mùa cá bội thu. Trời trong xanh, mây trắng hiền hòa, sóng biển êm đềm vỗ về hai bên mạn thuyền. Tiếng cười nói rộn ràng vang lên cả một khung trời. Bà con hồ hởi đứng trên bờ vẫy tay chào, chúc cho chuyến đi của đoàn thuyền thuận buồm xuôi gió. Đêm ấy trời đang yên lành bỗng tối sầm lại. Ánh trăng khuất dần sau màn mây đen dày đặc ở đâu tự nhiên kéo đến kín cả bầu trời. Gió nổi lên dữ dội. Biển cả phút chốc bỗng đổi sắc, gầm gừ như con quái vật điên cuồng muốn nuốt chửng cả đoàn thuyền nhỏ bé. Từng đợt sóng trắng xóa cuồn cuộn, nước ập vào đầy thuyền. Cơn dông bất ngờ quá, chưa ai kịp chuẩn bị. Ngư dân nghiêng ngả theo chiếc thuyền đang chấp chới giữa dòng nước. Tiếng sóng đập ầm ầm. Tiếng kêu la thất thanh thảm thiết. Đêm tối mịt mùng, chỉ còn ánh chớp xé ngang trời soi rõ những khuôn mặt hốc hác lo âu và hoảng sợ. Gió mỗi lúc một mạnh thêm. Sóng càng lúc càng dữ dội. Chiếc thuyền chao đảo giữa biển khơi như chiếc lá nhỏ nhoi cố níu cành giữa trời mưa bão. Ngư dân ghì chặt tay chèo, người ôm buồm, người giữ lưới, người níu lấy ghe thuyền. Mồ hôi hòa lẫn nước biển mặn chát. Trong cơn hoảng loạn, người ta không ngừng khẩn thiết kêu cầu, mong trời lặng, sóng yên, đợi Chúa thương cứu giúp cho qua bão tố. Phía xa xa trên bờ, từng ánh đèn nhỏ nhoi hắt ra biển cả leo lét. Mẹ già, vợ trẻ, con thơ ngóng trông cha trong màn đêm hun hút. Mỗi lần gió rít ngang tai là một lần tim họ đau thắt lại. Ai ai cũng lớn tiếng kêu cầu trong nước mắt, chờ người thân trở về trong hi vọng.
Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời đỏ ửng nhô lên, trời lại yên, biển lại lặng, duy có dòng nước vẫn đục ngầu. Sau cơn dông, rác thải khắp các nơi dạt vào bờ biển như một mớ hỗn độn của một bãi rác công cộng. Đoàn thuyền đánh cá lần lượt trở về trong tiếc nuối. Hai mươi hai người đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển, chỉ còn mười người may mắn sống sót trở về. Tất cả họ đã kiên cường chống chọi với thiên tai, nhưng sức người quá nhỏ nhoi so với sự điên cuồng thình lình của thiên nhiên biển cả. Biển nổi giận đã nuốt chửng những con người một đời gắn bó cùng nó. Tiếng khóc lóc kêu than thảm thiết xé trời át cả tiếng sóng vỗ bờ. Người vợ khóc ngất bên khoang thuyền. Mẹ già đau đớn đỏ hoe đôi mắt, chống gậy trông ngóng con trong một phép màu kì diệu. Cả làng chài chìm trong sự đau đớn tang thương. Người ta ngước nhìn ra biển căm hận như giận dữ oán trách chính kẻ đã cướp đi người họ thương yêu nhất. Cụ Tư thất thần quệt ngang dòng nước mắt: “ Nó đi rồi. Thằng oắt con đi rồi Chúa ơi!” - Đứa con trai duy nhất của cụ cũng phải bỏ mình nơi biển cả.
Đây không phải lần đầu ngư dân trong vùng gặp nạn, nhưng là lần đầu tiên hai mươi hai di ảnh được mang đến nhà thờ trong một ngày để cử hành nghi lễ. Nhìn những người thân oằn mình trước những cỗ quan tài khóc lóc thảm thiết, chẳng ai mà không đau thắt xé lòng. Thằng Sò lặng lẽ núp sau áo cha già mà khóc. Nỏ đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cái nghề đi biển lắm họa ít may, chẳng ai dám thách thức biển cả, cũng chẳng ai dám liều mình chơi đùa với thiên nhiên. Nhưng chẳng lẽ cứ để mãi như vậy? “Tình yêu với biển cả...” Bố nó dặn như vậy. “Khi nào biển còn xanh thì lòng người còn an yên bình lặng...”
Ít hôm sau, Sò vào nhà xứ tìm cha già. Lòng nó vẫn chưa thể nguôi. Những hình ảnh biết bao xác chết dạt vào bờ, lạnh ngắt và tím tái đã ám ảnh nó suốt ngày đêm. “ Chắc ngày xưa bố cũng vậy” - Sò tự nhủ.
— Thế là sao cha già? Chẳng lẽ Chúa trừng phạt chúng ta? Nhưng mọi người, cả bố con nữa đã làm gì?
— Chúa không trừng phạt đâu con trai ạ. Mà do thiên nhiên trừng phạt con người. Cha nghĩ vậy - Cha già ôn tồn đáp.
— Chẳng lẽ do con người phá hoại biển? Nhưng cá là để khai thác, để người ta đánh bắt. Chẳng lẽ không ai được đánh bắt cá nữa sao?
— Ồ, không phải vậy. Tôm cá là thức ăn nuôi sống con người, và đánh bắt là điều hợp lẽ nên làm. Nhưng con thấy không, biển cả cho cá cho tôm, còn con người thì đổ xuống biển bao nhiêu là rác thải. Biển nuôi sống con người, nhưng con người lại ra sức hủy hoại chính nguồn sống ấy rồi lại than trời trách phận.
Không biết Sò có hiểu chuyện cha già nói không, nhưng nó vẫn gật gù đồng ý. Một lát sau, chừng như nghĩ ra được chuyện gì, Sò đưa mắt nhìn cha già hồ hởi:
— Hay là chúng ta đi gom rác? Ngày nào cũng đi gom rác.
— Nhưng ai sẽ là người đi gom? Ai là người còn yêu biển? - Cha già hóm hỉnh
Sò buồn bã lặng thinh. Cha già dịu dàng xoa đầu thằng bé, khẽ bảo:
— Con trai, cha sẽ tổ chức một buổi cầu nguyện ngoài bờ biển. Con giúp ta nhé!
— Nhưng con sẽ làm gì? - Sò tròn mắt ngạc nhiên.
— Con chỉ cần kêu gọi các bạn thiếu nhi, còn cha sẽ kêu gọi người lớn trong làng. Tất cả chúng ta sẽ cùng cầu nguyện để Chúa xoa dịu nỗi đau này của chúng ta. Chúng ta cần cầu nguyện để xin Chúa ban lại cho ta một sự bình an tuyệt đối, để biển có thể xanh, để người dân được hạnh phúc.
Hiểu ý cha già, Sò gật đầu lia lịa, khẽ mỉm cười, rồi nhảy chân sáo ra khỏi sân nhà xứ, chạy ngay đến nhà cụ Tư. Nghe Sò nói, cụ Tư dầu đang buồn bã cũng hài lòng đồng ý. Mấy ngày sau đó, nó liên tục đi thủ thỉ với đám trẻ trong làng. Đứa trẻ nào cũng vui vẻ ưng cái bụng lắm, bởi thằng Sò từ lâu đã nổi tiếng khéo miệng, ba cái chuyện bày trò là nghề của nó. Mấy anh chị huynh trưởng cũng hào hứng lắm. Người mua nến, người chuẩn bị hoa, người đi cắt giấy xếp thùng rác làm mẫu... Cha già nhìn đám trẻ sum vầy trong sân nhà xứ mỗi tối mà mừng thầm trong dạ. “ Tuổi trẻ là tương lai. Sức trẻ là niềm hi vọng của non nước” - Bây giờ cha càng thấy chân lý này đúng làm sao.
Một đêm đầy trăng, gió mát nhè nhẹ, tiếng chuông nhà thờ ngân dài hòa lẫn trong ánh trăng rót xuống lòng biển mênh mang vô tận. Cha già cùng lũ trẻ xếp thành vòng tròn ngồi dàn trên bờ cát. Người dân thấy vậy cũng tiếp nối vào vòng, kẻ trước người sau. Thằng Sò nhanh chóng đi thắp nến. Bọn trẻ chuyền tay nhau lan tỏa ánh sáng lung linh đến hết mọi người. Những ngọn nến run rẩy trong gió như những lời nguyện khẽ thì thầm của những tâm hồn đang tan nát hướng về Đấng Tối Cao. Ánh lửa quyện vàng hòa cùng hương muối biển mặn chát dưới ánh trăng bàng bạc, ấm áp và linh thiêng. Những đôi mắt nhắm nghiền, những dòng lệ chan hòa trên gò má hòa cùng những làn khói mỏng đưa lời kinh nguyện bay lên trời cao xanh, trong mênh mông vô hạn. Trong đêm hôm ấy, cha già khẽ gợi ý cho người ta về cách yêu biển. Ai nấy đều mủi lòng nghẹn ngào nấc thành tiếng. Hóa ra bấy lâu này, người ta sống với biển mà chưa yêu, để biển xanh đổi màu giận dữ. Cũng trong đêm ấy, người ta quyết tâm với lòng mình phải tìm cách đưa màu xanh trở lại biển cả, cho môi trường được sạch, cho dòng nước trong lành.
“ Nguyện xin Thiên Chúa ban lại nét vui tươi cho chúng con. Nguyện xin Ngài không ngừng chúc lành cho khí trời và thiên nhiên nơi chúng con đang sống. Xin Chúa xóa đi những vết thương đã in hằn trong lòng biển, hay những nỗi đau đã xoáy sâu trong tâm khảm mỗi người chúng con. Xin giúp chúng con biết trân trọng biển cả, yêu mến những sinh linh nhỏ bé nhất như chính sự sống của mình. Lạy Thiên Chúa, xin ban cho chúng con một tâm hồn biết nhạy cảm trước tiếng gào khóc của thiên nhiên, một trái tim dễ dàng rung động trước những tổn thương biển cả phải chịu, một khối óc biết suy nghĩ và một đôi tay sẵn sàng hành động, để trả lại màu xanh cho biển cả. Amen”
Cha già kết thúc lời nguyện. Tất cả mọi người nắm tay nhau, ánh mắt ai nấy bừng lên lòng quyết tâm và hi vọng. Lũ trẻ nhìn nhau thích thú. Thằng Sò lân la lại nắm chặt tay cụ Tư đang sụt sùi vì xúc động.
Sáng hôm sau, người dân trong làng í ới gọi nhau ra biển, người cầm cái chổi, người xách cái xô . Cụ Tư khẽ khàng gỡ từng tấm lưới rách nát còn vướng trên ghềnh đá. Thằng Sò cùng bọn trẻ thi nhau nhặt chai lọ bỏ vào bao. Rác hữu cơ thì đào hố chôn đi, chai lọ thu gom được thì mang đi bán. Một lớp thanh niên khác đi đào hố trồng cây. Họ vừa làm vừa rộn ràng cười nói. Tiếng gọi nhau í ới vang dội cả một vùng. Trời nắng chang mà niềm vui xua tan đi sự mệt mỏi. Chẳng bao lâu, từng bao rác thải xếp chất đầy một dãy dài dọc theo bờ biển. Ai nấy hớn hở vui mừng, đôi mắt trong veo biết nói. Họ tự hứa với nhau rằng sẽ quyết tâm đều đặn chăm sóc cho biển được sạch, không chỉ hôm nay, nhưng bao lâu còn có biển, bấy lâu người dân còn phải giữ gìn.
Thời gian vẫn đều đặn trôi đi. Một sáng mùa thu, trời trong xanh, gió biển thổi vào bờ se se lạnh. Đang cùng bọn trẻ đang gom rác dọc bờ biển, bỗng thằng Sò nhảy cẫng reo lên:
“Cá kìa, cá kìa bọn bay ơi. Cụ Tư ơi! Mẹ ơi! Cá...”
Như là lần đầu tiên thấy cá, cá bọn trẻ xúm lại quanh thằng Sò trố mắt ngạc nhiên. Thấy bọn trẻ xôn xao, người người cũng kéo đến. Mọi ánh mắt đổ dồn ra mặt nước. Xa xa, trong dòng nước mát, một đàn cá bạc nối đuôi nhau bơi sát vào bờ. Vẩy cá bắt lấy ánh nắng sớm mai, tỏa ra thứ ánh sáng li ti trong veo như hàng vạn mảnh gương vỡ. Cụ Tư xúc động khuỵu xuống, run rẩy đưa tay hớt lấy vài con cá đang trượt sóng lao vào. Vài người lặng lẽ soi mình trong dòng nước. Những tia sáng mặt trời phản chiếu trên mặt biển trong veo như tấm gương khổng lồ. Từng gợn sóng nhẹ nhàng vỗ trên triền cát trắng. Mấy cụ già rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào: “ Chúa đã nghe lời chúng ta. Cá đã trở lại với chúng ta rồi”. Cha già âm thầm đứng đằng sau nhìn xem sự hồ hởi của người dân, khẽ khàng đánh giọng bảo: “ Biển đã bắt đầu xanh trở lại. Chúa nhân lành chẳng bao giờ chịu thua sự hi sinh quảng đại của chúng ta.” Ai ai cũng xúc động không thốt nên lời.
Một sớm mai khi mặt trời vừa ló rạng, lũ trẻ í ới gọi nhau ra bờ biển đón bình minh rồi soi mình dưới mặt nước đang dần xanh trong trở lại. Thằng Sò lại lặng lẽ nép bên cụ Tư, rút ra tờ giấy cũ nhàu nát, miệng lẩm bẩm:
“ Khi nào người ta còn yêu biển, biển hãy còn xanh. Đúng thế cụ Tư ha...”
👉 Các truyện khác: YOUTUBE
🎧 Spotify
🙏 Xin mời cùng lắng nghe và chia sẻ.
Cảm ơn bạn đã đọc bài viết này. Nếu bạn muốn nhận các bản tin qua email, vui lòng đăng ký newsletter bằng cách nhấp vào đây.